Some about me

Well, ảnh thôi

P1000983-1

Sau nhà

P1000964-1

Tú cầu nở một nửa

P1000994-1

Vài cuốn sách, nhiều cuốn chưa đọc

P1010147-1

Em gái nhỏ, dạo này vừa tròn vừa lì dã man :”)

P1010129-3

“Cô không đội mũ, mái tóc cô dày và rối, phủ qua hai vành tai. Cô khoảng hai mươi tuổi. Không xinh. Không nữ tính. Không sang trọng. Không thanh lịch. Không có bất cứ gì.”

Yep, thế aấy, tự họa

:”>

 

Midnight Wanderer

Hồi trước tôi có một cái playlist, kêu là Midnight Wanderer. Hai cái còn lại là The Soul Of Tango (đầy nhạc của Astor Piazzolla) và For Loneliness. Giống như các suy nghĩ trẻ con vậy.

 

Giờ nhắc lại. Quả thật chỉ khi nghe về đêm, một số bài mới thành ra hay. Trong đêm tối, ngồi một mình với laptop, nhét earsphone vào tai, cứ thế mà ngồi nghe mải miết.

 

Thật kì cục là linh cảm của tôi hầu như chỉ đến trong đêm tối. Ý là linh cảm về những điều không lành. Thế cũng ổn. Vì trong đêm, cứ nghe nhạc mãi thì dù có linh cảm xấu đến thế nào cũng thành ra dễ vượt qua.

 

Dạo gần đây tôi phát hiện mình đã trật nhịp với âm nhạc hiện đại. Trật xa lắm rồi. Thậm chí với cái xu hướng của một số bạn nghe toàn những bài kinh điển xa xưa, cũng không dính dáng gì nữa. American Idol, Brittain’s Got Talent, hip hop và pop-rock, nhạc tiền chiến, nhạc vàng, nhạc Trịnh. Gì cũng không dây dướng nữa.

 

Có một dạo tôi mê guitar điên cuồng. Bắt đầu từ Thanh Phương, tôi cảm giác tiếng rung dây của guitar thực sự mới là thứ mình tìm kiếm. Thế là tìm hết những gì có thể tìm được. Ngồi lì ở hàng net mấy tiếng liền chỉ để có một album của John Williams, dù có lẽ không có bài tôi thích. Thời ấy, nghĩ lại thật hay.

 

Giờ thì ba tôi đã đem cây guitar trong nhà cho người khác. Nói là có khi mua lại, nhưng nhìn ông, tôi biết là sẽ không đâu.

 

Đến giờ tôi vẫn thích Thanh Phương và guitar. Tôi nghe đi nghe lại Hoa Gạo của Hà Trần chỉ vì độ nhức nhối của tiếng đàn đệm. Tôi viết Ngồi Trên Mái Nhà chỉ vì khúc dạo đầu của Chưa Bao Giờ. Tôi thích Hiền Thục kể từ album ấy, khi cô hát và Thanh Phương đệm cho cô. Guitar cổ điển thì nghe mãi những bài của Augustin Barrios : La Cathedral, Una Limosna Por El Amor De Dios. Và, ừ, Chuyến Bay Của Tình Nhân – Leo Brouwer. Chúng ảnh hưởng đến tôi rất nhiều, vẻ đẹp, sự bi thương, nỗi hoang mang.

 

Có dạo tôi say đắm chuyển khúc guitar của Moonlight Sonata, chương 3 Presto kinh khủng. Người ta thường chỉ nghe Chương 1 Adagio, tôi nghĩ vậy. Nhưng Chương 3 mới là một dòng chảy ánh trăng cuồn cuộn.

 

Hiện tại, tôi đang có một sự say mê đặc biệt với âm nhạc của Debussy. Bắt đầu từ Clair de lune và Arabesque no.1. Giờ thì tôi vẫn đang sưu tầm nhạc của Debussy. Tôi có kha khá tác phẩm viết cho Piano của ông, cùng một số tác phẩm giao hưởng. Lối viết của tôi chịu ảnh hưởng nhiều từ cảm xúc của tôi dành cho âm nhạc của Debussy. Âm nhạc của ông lặng xuống ở những nốt trầm nhất, hoang mang sâu sắc tại đó, thế rồi thi thoảng cất lên những đoạn lướt nhẹ hẫng, rất đẹp. Hoặc ông tạo ra một dòng chảy dịu dàng của âm thanh. Âm nhạc của ông không quá trúc trắc, không quá khúc triết, không nhiều đau đớn và cũng không nhiều sang trọng. Cái đẹp trong nhạc của Debussy uyển chuyển, lắng trầm, trong sáng. Nghe mãi nghe mãi thấy mình rất mềm mại, mặc dù cô đơn không kể xiết.

Bản thân Guitar là dành cho những hoang mang tuyệt đối, còn Piano là cho những cô đơn riêng tư. Tôi nghĩ vậy.

 

Và cả Solitude của Ryuichi Sakamoto, Spanish Blue của David Lanz, Future của S.e.n.s.

 

Tôi đã viết Faraway Blue chỉ với Together We Will Live Forever, bản nhạc cuối trong phim The Fountain.

 

Hoặc dạo gần đây, mải miết đi tìm những bản nhạc phim của Carter Burwell.

 

Tôi cũng nghe nhiều Audiophile, một số album new-age và thậm chí có cả một album nhạc thiền, trong đó có một bài gần như là niệm Phật, từ đầu đến cuối chỉ thì thầm : Open my heart, open my heart, open my heart.

 

Còn violin, dạng như Chaconne in G minor hay các tác phẩm của Bach, chỉ nghe khi nào thực sự bình tĩnh. Chúng khiến tôi câm nín, không làm được gì cả.

 

Âm nhạc như một dòng chảy vậy. Đi mãi không ngừng. Trôi hoài mà không thấy được đã đến đâu. Mỗi lần mở máy, trừ phi đang chơi game hoặc xem phim, còn lại tôi đều nghe nhạc. Để chế độ random, lướt qua lướt qua, không thích bài này thì nghe sang bài khác. Tựu trung lại, thấy mình vẫn quanh quẩn trong kho nhạc của mình.

 

Trong đêm, nghe nhạc kiểu ấy mang lại sự yên tĩnh gần như là tuyệt đối. Giống như tạo ra một cái vỏ ốc, chui vào đó và lim dim ngắm nhìn thế giới xung quanh. Có nỗi đau gì cũng cố để cho trôi đi chứ không chống cự. Để rồi sáng ra nếu còn đau thì cứ tiếp tục nghe, nghe, nghe, đến khi nào mọi cơn đau theo âm nhạc mà trôi đi mất.

 

Dần dần, kiểu hành xử này khiến tôi giống như một tảng đá bị bào mòn trong nước, nhẵn nhụi, im lìm chìm xuống.

 

Du bảo, đó là trốn chạy, nhưng tôi không phiền lòng. Mỗi người có cứu cánh cho riêng mình, cứ chấp nhận và sống như những gì ta có. Thế thôi…

Ra mắt Socrates In Love

From Nhã Nam

Mời các bạn tới dự

Buổi ra mắt sách Socrates in love

“Có đôi lúc, vào một buổi sáng, ta bỗng vô tình tìm thấy thứ mà mình đã đánh mất từ rất lâu ở đúng chỗ trước kia. Trông nó thậm chí còn mới hơn cả trước khi bị đánh mất. Tựa như có một người không quen biết cẩn thận cất giữ nó giùm ta. Liệu có khi nào linh hồn của Aki sẽ quay trở về đây tựa như cách ấy không?”

Mối tình đầu giữa Sakutaro và Aki đến tự nhiên như ông trời đã sinh ra và đặt họ ở cạnh nhau để thành đôi lứa. Họ khởi đầu như đôi bạn cán sự của lớp học, là hai học sinh được chọn đóng Romeo và Juliet, cùng chia sẻ cuốn nhật ký trao đổi… cho tới khi nhận ra rằng tình yêu trong sáng của họ đã bắt đầu từ khi nào chẳng rõ. Tình cảm quyến luyến của họ hiển nhiên như bảng đen và bình hoa trong lớp, êm đềm trôi theo năm tháng học trò… Nhưng, thần nụ cười không cho họ đi tới trọn con đường, Aki đã mãi mãi dừng lại ở tuổi mười bảy, và Sakutaro bước tiếp – chỉ còn lại một mình…

Socrates in love đưa người đọc tới thế giới kỷ niệm đầy ắp những cung bậc cảm xúc vừa lãng mạn, vừa chua xót, vừa tha thiết, vừa day dứt của Sakutaro – và ở đó, người ta có thể thấy tình yêu đã vượt qua ranh giới của sự sống và cái chết, hiện tại và tương lai…

Nhân dịp Socrates in love (cũng được biết tới với tên Tiếng gọi tình yêu giữa lòng thế giới) được xuất bản tại Việt Nam, Trung tâm văn hóa Nhật Bản và công ty Nhã Nam phối hợp tổ chức lễ ra mắt sách và giao lưu với các dịch giả.

Chương trình có các hoạt động:

- Chiếu phim Tiếng gọi tình yêu giữa lòng thế giới

- Trưng bày các bìa tham dự cuộc thi thiết kế bìa cho Socrates in love

- Giao lưu với các dịch giả

- Tiệc ngọt và các trò chơi

(giải thưởng: sách Socrates in love tiếng Việt và nguyên bản tiếng Nhật)

Thời gian: từ 6h30 – 9h tối thứ Bảy, ngày 27/6/2009

Địa điểm: Trung tâm văn hóa Nhật Bản – 27 Quang Trung, Hà Nội

Chương trình mở cửa tự do, dành cho tất cả mọi người. Mời các bạn tới tham dự

(Bạn nào ở HN thì nhớ đi ha :P )

[Movies reviews] Elegy

elegyTên phim : Elegy – Khúc Bi Thương

Đạo diễn : Isabel Coixet

Năm sản xuất : 2008

Diễn viên : Penélope Cruz, Ben Kingsley

Reviewer’s rate : 7,5/10

~

Dạo này, trong đống phim thập cẩm mình coi, chỉ có hai phim thuần khiết về tình yêu. Đó là Ask The Dust có anh Colin Farell :”>, coi trong một buổi tối và mỉm cười khi nghĩ lại; và Elegy, coi trong một buổi sáng xám xịt mây mù, và khóc nức nở. Bản thân mình luôn trân trọng những phim có thể làm mình khóc. Đó là trải nghiệm quí giá, bạn khóc vì ý nghĩa câu chuyện đang đi vào lòng, và bạn nghĩ về cuộc đời tại sao lại có những nỗi đau cũng như hạnh phúc như thế, bạn nghĩ về sự sống, cái chết, sự vĩnh cửu và dịu dàng. Khi khóc, bạn trở nên đa cảm, mềm mại, yếu ớt, và dễ yêu thương hơn. (Bất tiện là bọn con trai chẳng mấy khi biết được sự đa cảm đẹp đẽ này – Lúc tôi khóc, người yêu, bạn ở đâu?)

Elegy – Khúc bi thương. Có lẽ sau này, mình sẽ nhớ hoài vẻ dịu dàng của nó. David Kapesh – một giáo sư văn hóa luống tuổi, nhạy cảm, hoài nghi, vào những năm cận kề tuổi già đem lòng say mê một phụ nữ trẻ. Nàng là Consouela Castillo, một sinh viên trong trường cao đẳng nơi ông dạy. Nàng đẹp, nghiêm cẩn nhưng tinh tế, đẹp một cách đằm thắm. Nàng nhỏ hơn David ba mươi tuổi. Sau khóa học ấy, họ yêu nhau.

elegy_klavier_DW_Ku_503043g

Mình nghĩ, thực sự đó là một tình yêu lý tưởng giữa những người trưởng thành với nhau : không ngại ngùng, không làm duyên làm dáng, không có những câu hỏi ngớ ngẩn này nọ. Một tình yêu nhạy cảm. David và Consouela đã say đắm nhau rất tự nhiên. Giống như một cơn mưa vậy, hay là một bản piano. Bạn biết nó bắt đầu, nhưng bạn không thắc mắc gì về nó hết. Gần như là hiển nhiên.

David đã ở tuổi hơn năm mươi. Mở đầu phim, ông đã nhắc đến tuổi tác của mình. Tuổi già, lặng lẽ, dường như mọi thứ đều cứ thế mà trôi tuột đi. Không có biến cố nào nữa. Thế nhưng, ở chính tuổi ấy, Consouela xuất hiện. Họ đến với nhau, đằm thắm, say mê. Ban đầu mối quan hệ này rất lỏng lẻo. Nhưng dần dần, David yêu Consouela, và sự quan ngại bắt đầu trỗi dậy. Từ tuổi tác của ông.

Có nên gọi đó là một phức cảm tự ti? Có thể. Mặc dù còn có một thứ khác. David cảm thấy quan ngại. Ông chần chừ, không muốn tiến đến một cái gì đó chính thức giữa họ. Ông đã ở trong tình trạng độc thân, hôn nhân không bền chặt, cả đời, giờ thì ông chẳng biết làm gì với Consouela cả.

Mình hiểu dạng hành xử này : ở quá lâu trong một môi trường, tự thân làm lấy mọi việc, rồi một ngày kia phải gắn bó với ai khác – đó là một bối rối lớn. Một bấn loạn khủng khiếp. Tin mình đi. Những kẻ nhạy cảm và khắc kỷ có một ám ảnh thường trực : nếu bảo họ làm cái gì khác đi, chấp nhận đó là tình yêu chẳng hạn, họ sẽ chẳng biết phải làm gì đâu. Đó là nỗi buồn của những người sợ hãi phải thay đổi, tự bằng lòng với các giá trị họ có trong hiện tại, và thấy rằng, bất cứ sự đổi khác nào cũng có thể là một thảm họa. Bạn thử một lần, thất bại. Bạn thử lần hai, thất bại, bạn thử đến một số lần giới hạn nào đó, và bạn biết mọi thứ đã được sắp đặt sẵn thế rồi. Cuộc đời của David đã được an bài : ông ngủ với nhiều phụ nữ, không gắn bó với ai, không yêu ai, đơn độc.

Thế mà, David yêu Consouela. Bối rối, một cách khủng khiếp ở tuổi già, nhưng ông yêu nàng, thật sự ấy.

Về sau, câu chuyện diễn biến theo một motif quen thuộc, nhưng đủ xúc động để lấy nước mắt của khán giả. Họ chia tay, vì ông không biết phải làm gì với nàng, rồi gặp lại vài năm sau đó. David yêu Consouela, ông chưa bao giờ ngừng yêu Consouela. Nàng đẹp, vẫn đẹp một cách nghiêm cẩn và đằm thắm. Nhưng nàng ung thư. Và họ lấy đi ngực nàng. Đôi ngực rất đẹp của nàng. Khi ấy, khi David cuối cùng đã hiểu ra rằng ông yêu Consouela thế nào, và đủ can đảm để chấp nhận nó, thì Consouela mất mát.

elegy2

Đó là bi kịch, hiển nhiên. Và cũng như mưa hay một bản piano vậy. Bạn biết nó bắt đầu. Nhưng bạn không chống lại nó. Đó là một mặc nhiên.

Phim kết thúc với cảnh trong bệnh viện. David ôm lấy Consouela, an ủi nàng, nàng vẫn đẹp đến thế. Cho dù nàng giờ đây không còn hoàn mỹ. Nhưng tình yêu, thứ tình yêu sâu sắc và lắng đọng của hai người, bên trong nó nàng vẫn đẹp đẽ vô cùng.

Elegy là một bộ phim gợi cảm và rất đỗi dịu dàng. Những cảnh quay tĩnh, chậm rãi, mượt mà như âm nhạc. Những đoạn độc thoại miên man của David. Vẻ đẹp của Consouela. Mùa đông New York màu xám với tuyết phủ đầy các lối đi và đài phun nước. Những bản piano solo trầm lắng kéo dài mãi ra. Lời thoại thấm đẫm văn chương nhưng không hề sáo rỗng. Những phân đoạn khỏa thân đầy xúc cảm. Đó là một chuỗi trải nghiệm, liên tục, với nhịp độ từ tốn, kéo bạn đi một cách tự nhiên. Tình yêu, sự hoài nghi, can đảm, và cuối cùng vẫn là tình yêu.

Thực sự mà nói, thời điểm này mình không trông mong yêu đương. Kiểu của mình cũng như David Kapesh ấy : sợ các thay đổi, vì chẳng biết phải đối phó thế nào cả. Nhỡ thế này, nhỡ thế nọ. Cứ thế mà dậm chân tại chỗ. Nhưng mình thực lòng mong rằng, khi mình trưởng thành – đủ chín chắn và đủ can đảm – mình cũng có một tình yêu như vậy.

Nói chung mình coi Elegy trong tâm trạng không được tốt lắm. Giống như là kết thúc phân đoạn nào đó trong sự trưởng thành vậy. Yếu ớt, không phòng bị, không tư duy cho ra hồn. Chỉ đầy những dự cảm riêng tư đau buồn. Là thời điểm lung lay của con lắc trước khi cân bằng trở lại. Nhưng thế hóa ra lại hay. Bỗng dưng mình có thể dễ dàng để tất cả những thông điệp của phim đi vào lòng. Như đã nói rất nhiều phía trên – như một cơn mưa, hay một bản piano vậy. Nó bắt đầu, kéo dài, và bạn biết đó là hiển nhiên thôi.

Toni Takitani

-đã đăng trên Reading Cafe

-

Đến bây giờ, những gì tôi còn nhớ về Toni Takitani là một chuỗi những hình ảnh và âm thanh rời rạc. Bởi lẽ tôi ít khi giữ một truyện ngắn trong máy tính của mình. Thường khi, tôi giữ trọn vẹn tác phẩm, hoặc bản in, hoặc ebook. Chỉ một truyện ngắn thì có vẻ ít ỏi quá, thế là dù có một số lần thấy bản online, vẫn không lưu.

 

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng tôi đã quên Toni Takitani, hay tôi không thích nó. Thực ra, tôi thích nó đến nỗi đã phải đợi rất lâu để tìm được bộ phim chuyển thể của nó và giữ rịt trong laptop của mình. Và down soundtrack, và xem đi xem lại, nghe đi nghe lại.

 

Haruki Murakami thống trị những câu chuyện của ông bằng một nỗi cô đơn đậm đặc. Mặc dù, trong những tiểu thuyết đồ sộ mang màu sắc siêu hình và tràn đầy những chiêu thức kỳ ảo, Murakami dường như muốn hướng đến một cái gì đó lớn lao hơn là niềm cô đơn của chính bản thân nhân vật. Thường khi, chủ đề ưa thích của ông là truy tìm bản ngã và tái tạo cái tôi cá nhân qua một chuỗi phiêu lưu kỳ quặc. Nhưng suy cho cùng, động lực của tất cả những phiêu lưu ấy, cũng chỉ vì nhân vật của ông cô đơn.

 

Toni Takitani là truyện ngắn thể hiện rõ ràng nhất và chân phương nhất nỗi cô đơn ấy. Đó là sự hiu quạnh thị thành, của những con người tưởng như bình thường trong xã hội, mà thực ra bị tách rời về mặt tinh thần đến vô phương cứu chữa. Toni Takitani chính thực tên là Toni Takitani. Đó là một cái tên không Nhật một tí nào cả. Nó do một người Mỹ đặt, một cái tên Mỹ. Nó là cái tên cô đơn dành cho một người đàn ông cô đơn.

 

Nội dung câu chuyện thì ngắn gọn thôi. Toni Takitani lớn lên, cô đơn. Năm 47 tuổi, anh yêu một người phụ nữ trẻ trung xinh đẹp. Ngỡ ngàng trước tình yêu và hạnh phúc, sự đơn côi trong anh thoắt nhiên biến mất. Cuộc sống là ngàn vạn niềm vui dung dị. Nhưng, bởi một lời nguyền dị thường (mà thực ra cũng chẳng phải dị thường cho lắm, xét trong bối cảnh hầu hết phụ nữ đều có xu hướng đó : yêu đương thời trang đến mức điên rồ và mất hết lý trí), vợ anh chết trong một tai nạn xe hơi. Giờ đây, Toni Takitani sống một mình trong một căn nhà có những gian phòng chứa quần áo khổng lồ của vợ mình. Những bộ quần áo mới tinh, hàng trăm đôi giày xếp ngay ngắn trên kệ. Một mình, giữa những thứ ấy. Sự cô đơn giờ đây trở nên nhức nhối.

 

Câu chuyện kết thúc khi Toni Takitani thất bại trong việc tìm kiếm một người có thể mặc những bộ quần áo của vợ mình. Và anh bán hết những kho áo quần ấy, cùng bộ sưu tập nhạc jazz đồ sộ.

 

Cuối cùng, Toni Takitani còn lại, một mình.

 

Sự quạnh hiu của cuộc đời Toni Takitani giống như một lời nguyền phi lý. Nó còn mang tính di truyền nữa. Bố anh cũng đã sống một cuộc đời hoang vắng, đến lượt anh hứng chịu tất cả những nỗi đau mà cô đơn mang lại. Và đến người con gái anh tìm về để mặc những bộ quần áo của vợ mình cũng cảm thấy uất nghẹn trước sự trống vắng dày đặc của cuộc đời anh.

 

Một điều khiến tôi thích Toni Takitani, vì nó chứa đựng một chân lý. Toni Takitani đã sống cuộc đời độc thân của mình trong thanh thản và đôi chút bình yên, khi ấy anh chỉ có một mình, nên quen với sự cô đơn như là một điều hiển nhiên. Nhưng khi lấy vợ, bởi vì anh giờ đây đã biết đến hạnh phúc, nên anh sợ mất đi hạnh phúc ấy. Chính khi đó sự cô đơn mới trở thành một lời nguyền nhức nhối.

 

Khi biết đến hạnh phúc, người ta mới thấu hiểu : cô đơn là một nỗi đau.

 

Có những điểm để bắt đầu cho một quá trình. Với Haruki Murakami, điểm khởi đầu cho việc tiếp cận văn chương của ông tương đối khó xác định. Nhưng, tôi nghĩ rằng, trong lĩnh vực truyện ngắn, Toni Takitani là một khởi đầu thích hợp. Cũng như trong tiểu thuyết, giờ đây tôi nghĩ không phải là Rừng Na-uy nữa, mà là một quyển khác. Cũng là một tác phẩm nói về sự đơn côi. Phải chăng khi ta chỉ có một mình thì mọi thứ mới bắt đầu?

« Bài viết cũ hơn