Acoustic
A foggy fic for Quỳnh Như’s 17th birthday.
By yue / midium length / multi-chapters / romance, angst / T / nothing to warn.
Note : Fic này có bối cảnh vào những năm CTTG II. Yue không thực sự rõ về chi tiết cuộc chiến (dù đã tham khảo ít nhiều từ wiki và google), nên đã hư cấu ra phần lớn sự vụ. Đọc để giải trí là chính, không bao gồm ý thức hệ về chiến tranh, quân sự hay chính trị.
————————
Acoustic
By yue
Tôi thường xuyên có những ảo tưởng vào những ngày chớm lạnh mùa sương giăng. Đấy hẳn phải là do tác động của vết thương trong não, trong xương và thịt. Vào những ngày có sương, tôi lịm đi nhiều.
Căn phòng tôi ở, tại một xó xỉnh nào đó ở Luân Đôn, là nơi không thể thấy ánh mặt trời do bị chắn tứ bề bằng những vách tường cao. Tôi chỉ thấy bóng nắng vào giữa trưa, khi tiếng chuông tháp Big Ben âm vọng khắp thành phố, chui vào từng ngõ ngách sâu thẳm bằng những quãng rung dài, ám muội và khiến bất cứ kẻ vô gia cư nào cũng phải khóc vì tủi hổ giữa thành phố xa xỉ lạnh lùng. Nắng phản chiếu qua nhiều bức tường, mất dần đi cái rực rỡ trong bản thể. Rốt cuộc khi tôi kịp nắm bắt dấu vết của nắng thì chỉ còn lại bóng mà thôi.
Cũng phải, Luân Đôn của tất cả bọn họ là một thành phố quá rộng lớn với những kẻ đói nghèo, vô sản, thương tật, không theo kịp công nghiệp hoá và các nhà máy. Luân Đôn của tất cả họ không còn nhớ gì về chiến tranh và những giấc mơ bị ám bởi máu và khói thuốc súng. Cái duy nhất còn lại là ký ức của những kẻ già cỗi, lỡ thời, những cựu chiến binh mãi mãi tổn thương và sẵn sàng lao mình vào một họng súng nào đấy tự tử trong ngu ngốc hơn là đến sân xem bóng đá. Cái dư âm thảng thốt đọng lại trong bảo tàng chiến tranh, nơi mà giới trẻ đi vào rồi trầm trồ ngạc nhiên, còn cựu quân nhân thì run rẩy thêm lần nữa trước phần đời đã mất và thời gian đã từng đóng băng bởi hai quả bom nguyên tử ở Bắc Á. Luân Đôn của họ đã chặt đi cây anh đào duy nhất mà tôi biết, nhường chỗ cho một văn phòng địa ốc. Luân Đôn sương mù, không nắng và lạnh giá hơn cả đông dài. Tôi ngồi ở cửa sổ, trông ra chỉ thấy thoang thoáng chút sáng mờ đọng trên gạch và những ngọn đèn cổ xưa còn lại.
Phía xa kia, toàn sương.
Một ai đó – một kẻ hát dạo đi ngang qua. Hắn chơi một cây guitar thùng, không phải là Harmonica hay kèn đồng như bao kẻ khác. Mà là guitar. ‘Acoustic Guitar’. Người và đàn hiện ra giữa sương tháng Mười Một. Tôi vẫn chưa tỉnh hẳn khỏi giấc ngủ sâu mê muội từ nhiều ngày trước. Tôi chỉ nhận ra hắn khi hắn dạo những gót chân xám ngoét lên nền đá cũng xám ngoét, trên một cái phông nền cũng xám một màu. Hắn là một kẻ hát rong ngơ ngẩn. Luân Đôn rất nhiều kẻ hát rong ngơ ngẩn. Người ta gặp, nghe đàn và cho những đồng xu. Hiếm lắm mới có người cho một bảng. Những người cho đa phần cũng khờ khạo theo cái lối tư bản trung lưu rởm đời và kiểu cọ.
Thế rồi hắn – kẻ hát rong vô tư – dạo đàn. Bắt chước bài Yesterday của Beatles. Đấy là một nhóm đang thịnh và hát những loại nhạc chưa bao giờ tồn tại trước đây. Chúng phá cách, nổi loạn mà vẫn êm ái như một dải mây trắng bay trên trời.
Tôi gục đầu trên cái bàn nhỏ, mặc cho sương tràn vào đầy tai, cuộn lại thành sợi, thành màng trong ấy. Mảnh đạn trong đầu tôi nhói đau và ép nặng lên não. Cái thổn thức muôn thưở khi nghe bất cứ ai chơi guitar. Nhưng khi những ảo tưởng về em xuất hiện, thoát thai từ khe hở của một cánh cổng nào đấy trong trí óc tôi, thì cơn đau chấm dứt. Tôi lại là tôi, năm hai mươi hai tuổi, lành lặn, cao lớn và nhút nhát đến tội. Tôi đứng trước cánh cổng ấy, nơi mà những dòng chảy bé tẹo của quá khứ tuôn ra. Tôi cố sức mường tượng sau hai bản lề khép kín kia là gì. Thiên đường chăng? Hay cũng chỉ là một bể sương giăng nuốt chửng mình? Loáng thoáng, tôi thấy những cánh hoa đỏ thắm như máu trôi qua khe hở ấy.
Từ những sợi mảnh bé tí của ảo giác, âm nhạc của Kira vang lên. Không phải Yesterday mờ đục của gã hát rong, mà là cái gì đó trong trẻo và dịu dàng như thở. Phải, chính tiếng đàn của Kira. Như thường lệ, tiếng gảy phím của em khiến tôi đổ vỡ. Cảm giác thân thể mình bị sương dìm đi mất, và chính mình cũng đang tan thành hơi nước. Kira, trong sâu thẳm lòng tôi, vẫn chơi một điệu khúc mùa xuân dù xuân chưa bao giờ về. Âm giai lởn vởn, khắc hoạ rõ dần em tại một xó rỗng tuếch nào đó trong tôi. Cánh cửa, nơi mà dòng ký ức tuôn ra, bỗng dịch chuyển nặng nề. Hai bản lề xoay, mở toang ra một khoảng không trắng xoá.
Tôi chợt nhìn thấy Kira, rồi bàng hoàng nhận ra : với tôi, em chẳng có gì hơn là mất mát.
Trong khoảng một mùa thu và đông những năm ấy, Kira thường xuyên xuất hiện trong dáng vẻ của một thiếu nữ có giọng nói rõ ràng, sắc nét cùng với dáng hình thanh tân. Dường như tất cả cái đẹp đẽ trong sáng của em dồn hết vào tiếng guitar mộc mà tôi vẫn hay nghe em đàn ở hàng hiên trước sân nhà.
Thành Phố Sương, nhà của Kira toạ lạc ở ngoài rìa, gần một dòng sông lạnh lẽo, sắc lẻm như dao cạo tuôn chảy như một ám ảnh bạc loá xuyên qua thành phố. Luồng sương khói thổi vào từ con sông ấy biến nhà Kira vào mỗi buổi sáng tháng chín đến tháng tư thành một hồ sương. Trong những bức tường thật cao quanh nhà em, sương trắng đậm đặc lạ kỳ, mà cũng mịn màng lạ kỳ. Từ trong tấm màn nhoà nhạt ấy, ngôi nhà màu nhạt hiện ra với cửa sổ trang trí bằng những tấm rèm xanh mạ, cùng với mái ngói tím thẫm. Lối đi rải sỏi trắng điểm xuyết vài đốm tuyền của đá cuội nằm giữa triền cỏ xuôi xanh mướt, mấy bụi hồng tú cầu tròn trịa nằm riêng một góc. Kế bên là một cái chậu sành to thật to, sóng sánh mấy đoá sen trắng nhỏ xinh. Những sao nhái, mười giờ và chuông xanh, cùng mấy bụi huệ trắng và cỏ đuôi chồn co cụm thành bụi ở mấy góc nhà. Có lần, khi hái một nhánh sao nhái vàng ươm, Kira nghiêng nét mặt, hỏi tôi :
“Cristian, anh có biết nơi nào nhiều thật nhiều các loại hoa dại không?”
Tôi trả lời : “Em nên đến những đồng bằng châu Âu dọc sông Thames, sông Danupe hay là những triền đồi hoang. Nơi ấy có nhiều.”
“Hoa mọc thành đồng chứ?”
“Dĩ nhiên. Những cánh đồng xanh đỏ tím vàng dài ngút mắt. Gò đất và đồi nối tiếp mãi, xa kia là rừng cây lá kim. Còn trước mặt toàn hoa. Tôi sinh ra ở một vùng trũng toàn cúc vàng và cúc trắng. Nếu được tôi sẽ đưa em đến. Cũng hay lắm!”
Cầm nhánh hoa trên mấy ngón tay mảnh, Kira thở dài. Một lúc sau, em nói :
“Tiếc quá, em không đi được.”
Thế rồi em vứt cành sao nhái đi, quay trở vào nhà lấy ra chiếc guitar đỏ thắm màu vân gỗ. Kira đến ngồi ở hàng hiên lát gỗ, cạnh gốc anh đào sum suê rũ bóng. Nắng không chiếu xuyên sương. Nắng không in bóng tán lá thành hình thù rõ rệt. Bóng cứ im lìm đổ lên tóc lên mắt em, môi em và bờ vai trắng nhạt. Bóng xam xám, lao xao và loang ra không hình dáng.
Một cơn gió rung lá cây thành chuỗi thoảng xào xạc. Kira so dây đàn, đặt mấy ngón tay lên phím.
Rồi em bắt đầu gảy, chơi một khúc điệu không tên. Những nốt nhạc kéo nhau ra khỏi ngón tay, rúng rẩy một kiểu nửa hờ hững, nửa da diết sao đó. Tôi chưa bao giờ rành rọt về âm nhạc. Người ta chỉ dạy tôi cách làm thế nào để bảo vệ hay giết chết ai đó, hoặc moi móc thông tin, chứ không bao giờ cho phép tôi được nghe âm nhạc lãng mạn. Tôi bị cắt lìa khỏi mọi sự tiếp xúc với dàn nhạc giao hưởng trung học và các vở ca kịch mà mẹ tôi yêu thích khi vào trường sĩ quan cao cấp. Trong vòng ba tháng huấn luyện khẩn để trở thành mật vụ cho Scotland Yard, tôi thậm chí còn không biết đến dàn đồng ca nhà thờ. Họ cho tôi nghe quốc ca, những bài diễn văn và hợp xướng chống Phát Xít bằng giọng hùng hồn nhân tạo.
Những gì Kira tạo tác xuyên sâu vào lòng tôi dễ dàng đến bất ngờ. Tựa như hát ru. Nhưng Kira không hát. Em chỉ đàn. Chuỗi âm thanh sáng bừng và u hoài trong hơi may se lạnh. Thứ âm nhạc tự nhiên như chảy từ chính lòng em, tuyệt không phải là sản phẩm của khổ luyện.
Chưa nghe hết đoạn tấu, tôi bật khóc.
Kira, làm sao đây? Tôi không tài nào rút súng giết em được nữa rồi.