Acoustic – 2

Acoustic
By yue


2

 

 

Sau Thế Chiến, tôi đào ngũ. Cụ thể một chút là tôi tìm cách để không phải ở lại Scotland Yard, Không quân hay MI6.

Lúc ấy tôi đã có vết thương ở đầu. Một mảnh đạn đã ghim vĩnh viễn trong ấy trong một chiều tôi bị truy sát bởi các mật thám của Hoa Kì. Trớ trêu, quân đội hai bên là đồng minh chống Phát Xít, thế mà chỉ sau khi Stalin cho làm một lễ duyệt binh thắng lợi hoành tráng ở Quảng Trường Đỏ được vài tháng, thì một số lớn các điệp viên, mật thám và những kẻ giữ quá nhiều bí mật đã bị làm cỏ sạch sẽ. Người của Xô Viết thì bị CIA giết. Nghe đồn Iosif Stalin đã ký mật lệnh triệt hạ toàn bộ mật thám quan trọng người Anh, Mĩ hay Pháp hoạt động ở Bắc Á và Đông Âu. Washington và Moscow tận diệt mọi điệp viên đã tham gia vào sự vụ quá sâu, xem như đấy là cách để xây nên bức tường cao và dày khủng khiếp ngay tại Berlin bên cạnh gạch, bê tông và chạy đua quân sự. Cuộc mật sát còn được xem là sự trả đũa và thanh trừng giữa hai thái cực. Đối với các ông trùm ở Nhà Trắng hay Điện Kremlin, đấy còn là một thú tiêu khiển kích động trưởng giả.

Đó là một mớ mì khô rối bù không tài nào kéo sợi ra cho rành rọt được. Mọi thứ đều bị che phủ một cách tài tình như dựng cảnh đóng thế trong phim hành động. Các tài liệu quan trọng của những người quan trọng cứ lần lượt được chuyền tay để khỏi thất lạc. Nào là việc khai thác thông tin từ một tay trong cài vào đầu não ở Tokyo, nào là tài liệu chế tạo hai quả bom nguyên tử, rồi đến Trân Châu Cảng, các trận chiến nhuốm mùi giả dối hoang mang ở Trung Hoa, Biển Nhật Bản, Đông Nam Á và Berlin, rồi những mắc mứu của Stalin và Đông Âu …. Còn người đã khai thác chúng thì trối chết tìm đường thoái lui bằng cả tài năng tình báo và giả trang của mình.

Tôi chỉ biết một trong vô số chuyện như vậy, và bị một gã đeo kính đen da màu cao lớn giương súng bắn thẳng vào đầu khi đang cố tìm cách dò la về những người nhà Yakihito lúc đang ở Tokyo mùa hè năm 1946. Từ ba năm trước, tôi đã dò la mãi về nhà Yakihito bằng cách liên lạc điện tín tới những người có liên quan ở Luân Đôn, Nam Kinh, Kyoto và Tokyo. Thật bất ngờ, những người biết về vụ việc thư ký cố vấn tham mưu ở Tokyo năm nào không phải ít. Nhưng họ đã chết dần di. Về sau tôi mới biết, khi tôi vừa kịp hỏi ra manh mối, thì họ bị giết ngay sau đó. Đã có năm người chết cả thảy, ba trong số họ là mật vụ người Anh. Tình hình không ổn, tôi phải đi càng sớm càng tốt. Thế là vào tháng Bảy năm 1946, tôi sang Hoa Kỳ theo yêu cầu công tác, từ đó tôi bí mật sang Nhật bằng một chiếc tàu hàng.

Tôi không còn nhớ chút gì về Tokyo, chỉ biết đấy là thành phố mà tôi cần phải đến và truy cho ra tung tích người nhà Yakihito. Nhưng có một đều tôi chắc chắn : Tokyo lúc ấy thực tệ hại, và có lẽ sau này khi đã giàu sang ngang với Luân Đôn, nó cũng sẽ lạnh giá như Luân Đôn vậy. Mĩ sẽ biến nơi đấy thành chốn xa hoa không kém gì hai bờ sông Thames, và Mĩ cũng sẽ khiến Tokyo thành một nơi lạnh lẽo, u sầu, mờ mịt và lạc hướng như New York hay San Francisco. Giống như người Anh đã tạo ra một Hongkong lộng lẫy nhưng mục rữa về tinh thần. Tokyo có số mệnh y như vậy. Đấy là điều đã được tiên báo. Như New York, như Hongkong, như Paris, như Luân Đôn… Những thành phố lớn vô nghĩa. Tokyo với tôi lúc ấy và bây giờ cũng vậy, tôi đến đó chỉ vì đấy là nơi mà cha của Kira đã làm việc và biết đâu dấu tích của ông vẫn còn ở đó.

Tôi định đến Akita hôm sau bằng tàu hoả, nhưng không còn kịp nữa. Buổi chiều, tôi bước ra từ nhà một người đồng nghiệp của Watsuki Yakihito năm nào với những manh mối ít ỏi, lệch lạc và rối rắm. Khi vừa định lên một chuyến tàu điện, tôi đã bị bắn ở nhà ga. Đoàng một phát! Thế là bóng tối bao phủ.

Khi tôi tỉnh lại ở bệnh viện Charing Cross, độ chừng hai tuần sau đó trong phòng bệnh, ký ức tôi chỉ là một khoảng không tênh hênh. Không có gì trong đó. Ngay khi tôi chớm lịm đi lần nữa thì Steward Rich – chỉ huy trưởng Scotland Yard và cũng là cấp trên của tôi ở MI6 – bước vào, nói với cái vẻ khinh bỉ và thương hại rằng :

“May cho anh lắm đấy, Trung sĩ Cristian Hopkins. Một người của chúng ta ở Tokyo lúc đó đã biết chuyện, đã lập tức làm việc với người Mĩ. Họ bảo anh đang dò la về Yakihito, thế là CIA tại Nhật yêu cầu phải giết anh cho bằng được. Chúng ta đã bảo lãnh anh, thiếu uý ạ, với danh nghĩa đồng minh thân cận của Hoa Kỳ và nhân danh Nữ Hoàng. Chúng ta đã phải cam kết rằng anh vô tội và chỉ làm thế vì tò mò. Những phần tử phiệt quân còn lại ở Nhật căm thù Yakihito, Mĩ không muốn ai biết về Yakihito. Họ có đủ nguyên cớ nã súng vào anh hay cho anh nếm thử Polonium. Họ có thể giết anh ngay khi đang làm phẫu thuật tại Tokyo. Thế là chúng ta lại phải nhân danh Nữ Hoàng lần nữa, đề nghị một chuyến phi cơ mang anh về đây. Hỏi có tốn tiền không cơ chứ? Có hại không cơ chứ? Anh làm chúng ta mệt xác quá, Hopkins! Dù sao Thủ Tướng không muốn anh chết bỏ xác ở châu Á và làm ảnh hướng đến danh dự của ông ta hay quan hệ Đồng minh.”

Lão móc một điếu thuốc trong túi, kê vào miệng, bật lửa và châm cho khói bay mờ mịt. Cái dáng điệu hiều hâu lúc khói che mất mặt của lão vẫn là cái gì đó kinh tởm với tôi. Khi hút thuốc, lỗ mũi dày, thô và đỏ chét của lão bạnh ra, mắt xộc xệch lim dim và môi phều ra tái mét. Làn da bủng beo trông càng bệ rạc. Rít ba hơi đầy phổi, ho ba tiếng, Rich nói tiếp :

“Thế nào, Trung sĩ đáng thương hại? Ăn đạn vào đầu có cảm giác gì không? Chắc là đau lâu đấy. Vẫn còn một mảnh nằm sâu trong não anh và sẽ tái phát gì gì đó. Ta biết ngay là bọn Mĩ chẳng muốn cứu anh làm gì. Chúng cứ để yên, chẳng mổ miếc gì sất. Tệ lậu thật! Chúng hành hạ anh đến chết đấy. Đã bảo mà, a ha! Giờ thì anh là kẻ tàn phế rồi nhé! Tuy nhiên, anh sẽ phải ở lại Scotland Yard thôi, dù anh có bị vết thương làm nứt toác đầu ra. Ít nhất thì trong vòng năm sáu năm tới là vậy. Buông thỏ ra thỏ bị thợ săn giết mất, hiểu không? Chỉ vì anh đã ngu ngốc đi dò tìm về Yakihito! Cá trăm phần trăm là cả Iosif Stalin cũng muôn giết anh vì việc này đấy, nhóc!”

Thế rồi ông ta vẩy điếu xì gà xuống đất, dùng mũi giày di mạnh lên đầu thuốc, đóng cửa phòng bệnh lại với âm thanh khô khốc. Tôi ở lại với vết thương và cơn đau dữ dội như sét đánh trong đầu. Được một lúc, tôi mê man bất tỉnh.

Vài ngày sau, tôi tỉnh dậy một lần nữa. Lúc ấy, tôi nghe thấy tiếng lanh canh của xe buýt, âm thanh lộc cộc của xe ngựa kéo và lởn vởn đâu đó là tiếng động cơ ô tô. Thế rồi ai đó chơi Harmonica đeo một bản nhạc đồng quê. Tiếng kèn vặn vẹo, uốn éo một lúc lâu, hoà lẫn với tiếng vọng dưới phố, kéo tôi dần ra khỏi mê man. Một luồng sáng ban ngày rọi ngay trên người tôi, phát xuất từ một cái cửa sổ mở rèm. Không khí dịu mát nhưng tiếng ồn mỗi lúc một rõ, một đậm hơn cho đến lúc thành ra một cốc cà phê đắng nghét. Tôi mở mắt to rõ hơn, nhìn thấy một anh bác sĩ trẻ, có vẻ là bác sĩ thực tập. Anh ta nhướn cặp mắt trũng sâu nhìn tôi đầy sảng khoái, miệng toe toét cười.

“Thiếu uý Hopkins, anh có muốn uống nước không?”

Tôi gật đầu, thấy dây nhợ và những mũi kim gài hai bên cánh tay, lòn vào mũi và miệng mình. Đầu những ống dẫn nằm đâu đó trong cuống phổi, trong ruột, tạo cảm giác nhột xót mà rờn rợn. Cảm giác cơ tay cơ chân đã tê liệt còn đầu thì vẫn trĩu xuống. Khi nhận được nước từ chính tay người bác sĩ trẻ mớm cho, tôi cảm thấy thực sự đau khổ. Cảm giác sống động và chân thực biết bao nhiêu! Thì ra tôi vẫn sống.

“Anh đã ngủ nhiều, đã sốt cao và hạ sốt. Tóm lại là anh đã ở trong và qua khỏi tình trạng nguy kịch”, vị bác sĩ cao lêu nghêu cười tươi. Nhưng rồi anh ta chau mày lại nhìn tôi vẻ khó hiểu.
“Anh đã gọi tên Kira Yakihito nhiều lần. Có vẻ như ông cảnh trưởng Scotland Yard e ngại lắm về việc này. Ông ta bồn chồn suốt. Ông ta văng tục nữa. Thứ lỗi tôi nhiều chuyện, nhưng Kira Yakihito là ai mới được?”

Một cơn chấn động đột ngột kéo đến. Tôi khóc rống lên. Tôi quằn quại trên giường bệnh, làm rung lắc chiếc giường và làm các kim ghim trên người trượt đi trong mô, khiến đâm vào đau cháy thịt. Nhưng tôi vẫn cứ oằn người như con côn trùng giãy chết. Tôi kêu la thảm thiết như bị hành hình và co giật như thể bị động kinh.

Chính lúc ấy, tôi nhớ lại khi Kira lần đầu tiên hôn tôi. Cảm giác khi em chạm môi vào má tôi diệu kỳ đến nỗi làm tim tôi bị siết nghẹt lại. Đi cùng với hình ảnh ấm áp là nỗi đau đớn quá sức chịu đựng, khiến tôi lồng lên như thú hoang. Và tôi cứ méo mó, uốn oằn, khóc mãi, khóc mãi, cho đến khi cạn khô nước mắt, kiệt sức, vùi hẳn vào cơn mê một lần nữa.

Trong tấm màn trắng phau bao lấy trí não, tôi nghe tiếng khẽ vặn chỉnh dây, tiếng miết ngón tay dọc lên các sợi kim loại rit rít, tiếng búng ngón lên ba dây trầm nhất của Tây Ban Cầm. Tôi cũng nhận ra cái âm thanh quen thuộc của ngón cái chạm nhẹ lên dây mảnh nhất ở nốt cao nhất, nghe vút vời. Tiếng cái gờ nhô lên giữa hai khớp ngón tay gõ cộc cộc lên thân đàn. Rồi tiếng cười rúc rích khi đưa toàn bộ năm ngón tay vẩy ngang qua các dây đàn lặp đi lặp lại …

Khi tỉnh dậy lần thứ ba, tôi quyết định kết thúc mọi chuyện. Tôi không thể ở lại MI6 thêm nữa. Còn nếu ra bên ngoài thì cũng chết. Scotland Yard càng không được. Cái xó khốn nạn ấy chỉ khiến tôi mãi mãi tàn phế trong những vết tích sầu thảm.

Sau khi ra viện hai tuần, tờ mờ sáng hôm nọ, tôi bình thản thả người dạo lên đến tận cầu Wesminster. Khi lên đến nhịp giữa, tôi leo lên thành cầu, buông người xuống dòng nước cuộn chảy. Sông Thames lúc ấy đang mùa nước lớn. Dòng sông sâu hoắm, ào ạt xuôi ra Biển Bắc nơi phía cuối tầm mắt. Sóng nước cuộn mờ mịt đằng Đông. Vài tia sáng chớm hiện lên và sao trời như run rẩy. Không khí im ắng và trong suốt. Chỉ có tiếng khẽ ồn ào của những chuyến xe sớm trên phố và sự ầm ì của lòng sông.

Nhưng thế nào đó, tôi không chết. Có lẽ Kira không cho tôi chết, em bắt tôi phải sống và nhớ về em đến hết cuộc đời vô nghĩa này. Tôi đã uống một bụng nước lạnh, bị nước làm tắc phổi và chìm sâu thật sâu trong dòng chảy. Tôi bị sông Thames cuốn vào bóng tối yên tĩnh hoàn toàn và hân hoan nhận ra mình sắp chết. Tôi cam chịu và mở lòng ra đón nhận nó. Tôi sẽ đi qua hạ lưu vùng Cổng Sông Thames lần nữa. Tôi sẽ đi ngang qua nhà Kira lần nữa. Tôi sẽ đi dưới những chiếc cầu và ngang qua những bến phà. Điều ấy thật hạnh phúc. Nước sẽ cuốn tôi đi những đoạn đường đã qua lần cuối cùng. Tôi nhắm mắt lại, lắng nghe trong đầu tiếng đàn guitar của Kira, cố vùi mình vào giấc ngủ giữa vang động liên hồi và âm u của dòng nước xiết.

Khi tôi mở mắt thì không phải thiên đường hay hoả ngục. Thay vào đó, tôi phát hiện tay chân mình đã gãy cả, người bê bết máu, và nằm trên một cái bong tàu. Mặt trời chiếu chói loá vào mắt. Hơi Biển Bắc lạnh giá chui vào sâu trong hốc mũi, làm tê rát những đầu ngón tay ngón chân. Tim đập liên hồi, miệng cố há to để lấy không khí. Tôi chưa chết.

Tôi đã va vào mạn một con tàu, và suýt tí nữa thì đã bị chân vịt xé nát thân thể. Tuy nhiên tôi chưa chết!

“May mắn đấy nhé, con trai”, thuyền trưởng nói, “Chúng tôi đã cứu anh kịp thời. Số phận anh ạ, từ chối nó là ngu xuẩn. Nó muốn anh chết thì anh không thể sống, nó muốn anh sống thì anh không thể chết. Thế thôi. Hãy làm tròn phần phúc của mình và đợi được về với Chúa”

Lúc ấy tôi còn sống. Tuy nhiên đã có một cái lỗ đào quá sâu trong tôi rồi. Nó đen ngòm, trống không và ngày càng lan rộng ra. Sớm muộn gì tôi cũng sẽ chết trong cái lỗ sâu hoắm ấy. Tôi sẽ chết trong sự trống trải không từ nào tả nổi, bị dày vò bởi ký ức sống động và hư ảo. Thế thì tại sao tôi không được chết ngay lúc ấy? Tại sao viên đạn của gã da màu kia không giết tôi quách đi? Sao sông Thames không dìm tôi vĩnh viễn? Sao tôi lại không va vào chân vịt và bị xé tan nát từng mảnh da xương?

Không, hãy để tôi chết! Bởi lẽ tôi không muốn chịu đau đớn trống rỗng thế này nữa, bởi lẽ tôi không còn muốn nghe tiếng guitar nhẹ bổng của Kira vang lên trong đầu nữa. Cái lỗ trong tôi, từ cái ngày anh đào rụng đỏ thắm như máu ấy, đã bị khoét rộng ra và bắt đầu lở loét rồi. Cái ngày sương giăng dày đặc ấy đã cướp đi cái gì đó quí giá nhất của tôi đi rồi. Tôi không còn muốn nhớ về chúng nữa – những hồi ức mới mẻ và thảng thốt. Chúng chỉ mới đây thôi, cũng lấp lánh sinh động như việc trước mắt, chói như mặt trời, cũng rợn gai ốc như gió biển hơi mặn chát, cũng lao xao như tiếng nhiều con hải âu lượn lờ xung quanh. Nhưng tôi không muốn nhìn thấy chúng trong những cơn mê nữa.

Vì tôi đã yêu Kira Yakihito biết bao nhiêu.

Đăng 1 phản hồi